Giải quyết tài sản của người được thi hành án chết không có người thừa kế

Luật Tiền Phong – Đang thi hành án mà người được thi hành án chết thì giải quyết thế nào? Mới đây Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự đã được ban hành ngày 01/8/2016 hướng dẫn chi tiết về vấn đề này. Luật Tiền Phong chia sẻ để bạn đọc gần xa nắm được, cụ thể các nội dung cơ bản như sau:

Giải quyết tài sản khi người được thi hành án chết không có người thừa kế
Giải quyết tài sản khi người được thi hành án chết không có người thừa kế

1.Có đình chỉ thi hành án nếu người được thi hành án chết mà không có người thừa kế hoặc bản án không chuyển giao cho người thừa kế không?

Theo quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án trong các trường hợp:

“a) Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;

b) Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;

c) Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;

d) Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ;

đ) Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;

e) Có quyết định miễn hoặc giảm một phần nghĩa vụ thi hành án;

g) Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án;

h) Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên”.

Như vậy, trường hợp người được thi hành án chết mà không có người thừa kế là một trong những căn cứ đình chỉ thi hành án. Bởi lẽ, người được thi hành án chết, người thừa kế cũng không có thì không có người tiếp nhận tài sản được thi hành án. Do đó, quá trình thi hành án được đình chỉ thi hành.

2. Xung công tiền bán đấu giá tài sản thi hành án

Trong trường hợp tài sản được bán đấu giá thành,“sau khi trừ đi các khoản chi phí thì số tiền phải thi hành thuộc về ngân sách nhà nước”.

Phần tiền từ việc bán đấu giá tài sản mà người được thi hành án được hưởng nhưng vì chủ thể này chết và không có người thừa kế để thừa kế quyền lợi này nên phần này sẽ thuộc về ngân sách nhà nước. (theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự )

(Lưu ý, phần tiền này là số tiền còn lại sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cho việc thi hành án).

3. Trả lại tài sản thi hành án, trả lại phần tiền còn thừa (vượt quá giá trị thi hành án) cho ai?

Trong quá trình xử lý tài sản để thi hành án, người được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì chấp hành viên sẽ căn cứ vào quyết định đình chỉ thi hành án để giải tỏa kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong trường hợp:

+ Tài sản chưa được tổ chức bán đấu giá; hoặc

+ Đã đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá; hoặc

+ Đấu giá không thành.

Như vậy, tài sản khi chưa chuyển giao sang cho người khác thì sẽ được trả lại cho người phải thi hành án theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 5 Thông tư 11/2016.

Cũng có những trường hợp tài sản đưa ra để thi hành án có giá trị lớn hơn nghĩa vụ phải thực hiện cho người được thi hành án. Do đó, sau khi trừ đi các khoản chi phí cũng như trừ đi phần phải thực hiện nghĩa vụ được xung công vào ngân sách nhà nước thì  theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 5 Thông tư thì số tiền còn lại được giải quyết theo quy định của pháp luật. Phần tiền còn thừa sẽ được trả lại cho người phải thi hành án.

Như vậy, thông tư đã cụ thể hóa hướng giải quyết đối với trường hợp người được thi hành án chết mà không có người thừa kế thì giải quyết như thế nào. Hướng dẫn tại Thông tư này giúp cho các cơ quan thi hành án cũng như các chấp hành viên giải quyết công việc hiệu quả hơn, tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giải quyết.

Trên đây là phần trao đổi về quy định mới về thi hành án dân sự được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 11/2016. Mọi thắc mắc và ý kiến trao đổi về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 1900 6289.

Trân trọng!

Comments

comments

Để lại phản hồi