Chồng bỏ đi biệt tích, vợ có bán đất được không?

Chồng bỏ đi biệt tích, vợ có bán đất được không?

Luật Tiền Phong – chuyển quyền sử dụng đất phải được các chủ thể đồng ý, nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung hai vợ chồng thì nhất thiết phải có chữ ký của cả hai vợ chồng dựa trên sự đồng thuận về ý chí. Trường hợp vợ hoặc chồng bỏ đi biệt tích mà người còn lại không thể tìm kiếm, liên hệ thì xử lý như thế nào? người còn lại có quyền tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay không là câu hỏi được nhiều người liên hệ tổng đài tư vấn 1900 6289 của Luật Tiền Phong để nhờ tư vấn, chúng tôi xin biên tập lại để các bạn đọc tham khảo, cụ thể như sau:

Chồng bỏ đi biệt tích, vợ có bán đất được không?
Chồng bỏ đi biệt tích, vợ có bán đất được không?

KHÁCH HÀNG HỎI:

Kính gửi Luật Tiền Phong,

Tôi có mua một miếng đất nông nghiệp, đã hoàn tất toàn bộ thủ tục giá cả và đã đặt cọc theo đúng trình tự quy định và tiến hành công chứng để chuyển quyền sử dụng đất thì gặp vấn đề trở ngại là trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người bán vẫn còn tên người chồng đã bỏ địa phương đi đã 18 năm không ai rõ tung tích nhưng gia đình chưa tiến hành các thủ tục tìm kiếm. Nay tôi muốn hoàn tất hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất thì phải làm gì? Thông tin thêm là người chồng bỏ đi ấy hiện vẫn còn vợ và 4 người con, khi tôi làm thủ tục mua đất thì có sự đồng thuận của 5 người họ, nhưng không biết các thủ tục thế nào và phải chờ hết thời gian bao lâu nữa mới chuyển được quyền sử dụng đất?

Cảm ơn công ty và trân trọng kính chào!

LUẬT TIỀN PHONG TRẢ LỜI:

Vấn đề bạn hỏi, Luật sư Đào Liên – Công ty Luật Tiền Phong tư vấn cho bạn như sau:

1. Vợ không thể định đoạt thay chồng đối với quyền sử dụng đất là tài sản chung

Về nguyên tắc, tài sản chung phải được hai bên cùng định đoạt, với trường hợp chủ tài sản bỏ đi biệt tích thì theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 81 Bộ luật Dân sự 2005, trường hợp “Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống, thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết”.

Trường hợp của bạn, người chồng của người bán đất đã bỏ đi 18 năm liền và không hề có tung tích gì. Do đó, vợ anh ta hoặc những người có quyền, lợi ích liên quan khác có thể yêu cầu Tòa án tuyên là chồng bạn đã chết.

Việc anh đã hoàn tất các thủ tục cần thiết nhưng còn còn một trở ngại là còn tên người chồng của người bán trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, nếu như người bán đất có ý định và muốn bán đất thì cần làm thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên là người chồng đã chết theo Điều 335 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời gian để xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

 “1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết không quá ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn đó, Toà án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và yêu cầu Toà án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Toà án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu”.(Điều 336 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011).

Sau khi Tòa án tuyên bố người chồng là đã chết, một nửa tài sản là quyền sử dụng đất này sẽ trở thành di sản thừa kế và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ là người được chia tài sản với kỷ phần bằng nhau.

Theo Khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

 “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, me nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.

Do đó, người vợ và 5 người con là những người thừa kế theo pháp luật sẽ được quyền hưởng phần di sản của người cha và thực hiện khai nhận di sản thừa kế.

Theo quy định tại điểm a tiểu mục 2.4 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, nếu 5 người con với tư cách là các đồng thừa kế có văn bản cùng thoả thuận để cho người vợ (mẹ của các cháu) đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời trong văn bản đó cũng nói rõ là các đồng thừa kế không có tranh chấp gì về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản thừa kế do người bố để lại. Khi đó, toàn bộ mảnh đất sẽ đứng tên quyền sở hữu của người vợ hoặc khi tất cả 5 người con cùng đồng ý bán thì anh có thể mua được cả mảnh đất đó.

2. Thủ tục thực hiện:

2.1 Yêu cầu toà án tuyên bố chủ tài sản đã chết

Toà án có thẩm quyền:

Là toà án cấp huyện nơi chủ tài sản cư trú trước khi biệt tích.

Hồ sơ cần có:

– Đơn yêu cầu.

– Giấy tờ chứng minh mối quan hệ giữa người yêu cầu và người bị tuyên bố.

– Xác nhận của Công an sở tại về việc chủ tài sản biệt tích.

– Giấy tờ tài sản.

– Tài liệu chứng minh việc tìm kiếm không kết quả (bài báo hoặc bản tin tìm kiếm người biệt tích – 3 kỳ).

Thời gian và trình tự giải quyết:

Không quá 4 tháng.

2.2 Khai nhận thừa kế và sang tên tài sản cho các đồng thừa kế

Sau khi kết thúc các công việc nêu tại điều 2.1, toà án có quyết định tuyên bố chủ tài sản (người chồng) đã chết, thân nhân người này cần chuẩn bị hồ sơ gồm:

Hồ sơ:

Quyết định người chồng đã chết của toà án;

– Giấy tờ nhân thân của bố, mẹ, vợ, con và giấy tờ chứng minh mối quan hệ nhân thân;

– Giấy tờ tài sản.

– Văn bản khai nhận thừa kế (có thoả thuận phân chia thừa kế).

Hồ sơ được công chứng và niêm yết tại UBND xã/phường trong 15 ngày, sau đó văn bản xác nhận kết quả niêm yết nộp kèm hồ sơ gồm các tài liệu nói trên được đương sự nộp cho cơ quan đăng ký đất đai để thực hiện thủ tục sang tên tài sản cho các đồng thừa kế.

Có giấy chứng nhận các bên sẽ thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định.

2.3 Ký và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất  sang tên quyền sử dụng đất

Hồ sơ gồm:

Quyết định người chồng đã chết của toà án;

– Giấy tờ nhân thân của bên chuyển nhượng;

– Giấy tờ tài sản.

– Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng;

– Tờ khai đăng ký biến động;

– Tờ khai thuế thuế thu nhập cá nhân;

– Đơn đăng ký quyền sử dụng đất;

– Giấy tờ nhân thân của bên nhận chuyển nhượng;

Hồ sơ nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh quận, huyện.

Thời gian giải quyết: 15 ngày làm việc.

Trên đây là toàn bộ các công việc phải làm, các thủ tục phải thực hiện để trả lời câu hỏi của bạn, hi vọng giúp bạn làm sáng tỏ vấn đề mà bạn đang quan tâm, nếu bạn còn băn khoăn hoặc cần tư vấn chi tiết hơn nữa, vui lòng kết nối đến tổng đài 1900 6289 để được hỗ trợ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM:

>>>>> Tư vấn về thủ tục bán nhà đất
>>>>> Các khoản thuế phải nộp khi mua bán nhà đất
>>>>> Tư vấn về chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến hộ gia đình

==================

BAN TƯ VẤN PHÁP LUẬT – LUẬT TIỀN PHONG

Hotline: 1900 6289

Hotmail: contact@luattiephong.vn       

Địa chỉ: Tầng 25B1, toà nhà Bình Vượng, số 200, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội  

 

Comments

comments

HOTLINE: 0916 16 26 18

HOTLINE: 0976 714 386