Khi nào tác phẩm thuộc về công chúng?

Luật Tiền Phong – Tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, thời gian bảo hộ cũng có giới hạn đối với một số quyền nhất định. Vậy thì khi kết thúc thời gian đó các quyền đối với tác phẩm có những thay đổi như thế nào? Và việc công chúng được “sử dụng” tác phẩm đó ra sao?

Khi nào tác phẩm thuộc về công chúng
Khi nào tác phẩm thuộc về công chúng

Tác phẩm là sản phẩm trí tuệ của tác giả, cũng có thể gọi đó là “đứa con tinh thần” của tác giả, được sáng tác bằng tâm huyết, trí tuệ và mọi phương tiện vật chất, kỹ thuật của mình. Thành quả từ công sức này của tác giả được ghi nhận thông qua việc pháp luật công nhận và bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả. Từ đó, tác giả sẽ được quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tác phẩm của mình sáng tạo ra. Tuy nhiên, khi một tác phẩm hết thời hạn bảo hộ theo quy định pháp luật thì tác phẩm đó sẽ thuộc về công chúng, lúc này đối tượng “sở hữu” ở đây là công chúng, nhưng việc sử dụng tác phẩm phải trong giới hạn và tôn trọng quyền nhân thân của tác giả.

Điều 43 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định rằng: 

“1. Tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 27 của Luật này thì thuộc về công chúng; 2. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả quy định tại Điều 19 của Luật này”.

Do đó, khi tác phẩm thuộc về công chúng thì mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả, đó là:

+ Không được thay đổi tên cho tác phẩm;

+ Thay đổi việc đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm;

+ Được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; 

+ Không được xâm phạm sự toàn vẹn của tác phẩm, sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Đồng thời theo quy định của Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan tại Điều 30 về việc sử dụng tác phẩm thuộc về công chúng, ngoài việc phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả thì cơ quan, tổ chức, cá nhân còn có nghĩa vụ như sau:

+ Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan khi phát hiện các hành vi xâm phạm quyền nhân thân đối với các tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ thì có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; có quyền khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý. Tuỳ theo tính chất và mức độ xâm phạm, các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính, dân sự hoặc hình sự. 

+ Các tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ các quyền nhân thân đối với những tác phẩm của Hội viên đã kết thúc thời hạn bảo hộ.

Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ quyền tác giả là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Trong trường hợp đồng tác giả thì thời hạn 50 năm được tính từ khi tác giả cuối cùng chết. Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 50 năm, kể từ khi tác phẩm công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu được định hình, nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn được tính từ khi tác phẩm được định hình. Quy định như vậy nhằm khuyến khích tác giả sớm công bố tác phẩm phục vụ xã hội. Đối với tác phẩm khuyết danh, khi danh tính của tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo nguyên tắc đời người, có nghĩa thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Thời điểm kết thúc thời hạn bảo hộ vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm kết thúc thời hạn bảo hộ.

Luật pháp đưa ra thời hạn bảo hộ nhất định đối với từng loại hình cụ thể. Sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ, tác phẩm sẽ thuộc về công chúng, việc khai thác sử dụng sẽ ở tình trạng tự do. Tuy nhiên các tổ chức, cá nhân khi sử dụng phải tôn trọng quyền đứng tên, đặt tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM:

>>>> Các chế tài xử lý hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ

>>>> Chế tài xử lý vi phạm về bản quyền sách in và sách điện tử

Trên đây là bài viết của Luật Tiền Phong về vấn đề: “Khi nào tác phẩm được coi là tác phẩm thuộc về công chúng?”. Nếu có vấn đề cần tư vấn, hãy kết nối với chúng tôi theo số máy 1900 6289. Luật Tiền Phong có một đội ngũ Luật sư và Chuyên viên tư vấn chuyên nghiệp, tận tâm sẵn sàng hỗ trợ bạn trong mọi trường hợp có thể.

Trân trọng!

Comments

comments

HOTLINE: 0916 16 26 18

HOTLINE: 0976 714 386