Loại trừ trách nhiệm hình sự do thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên

Loại trừ trách nhiệm hình sự do thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên

(Luật Tiền Phong) Thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên có thể được loại trừ trách nhiệm hình sự nếu thoả mãn một số yếu tố.

Loại trừ trách nhiệm hình sự do thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên
Loại trừ trách nhiệm hình sự do thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên

Loại trừ trách nhiệm hình sự khi thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên  là gì?

Luật Hình sự 2015 không có định nghĩa loại trừ trách nhiệm hình sự là gì nhưng có nhiều điều luật xác định một hành vi cấu thành tội phạm, xâm hại đến khách thể được Luật Hình sự bảo vệ nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Loại trừ trách nhiệm hình sự được hiểu là người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khái niệm này khác với các trường hợp không phải là tội phạm, không phải chịu trách nhiệm hình sự hay không có tội. Loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên được hiểu là người thi hành mệnh lệnh của cấp trên sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cơ sở của điều luật

Trước tiên cần hiểu rằng, thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên là hành vi công vụ, đây là trách nhiệm của cấp dưới, được quy định trong nhiều luật liên quan như: Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng quy định về nghĩa vụ của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng. Đây là điều luật cơ bản, tạo nên kỷ cương, phép tắc trong lực lượng quân đội, an ninh, tạo nên sức mạnh bảo vệ đất nước, bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Đây là biểu trưng cho quan hệ mệnh lệnh – phục  tùng.

BLHS 2015 quy định loại trừ TNHS đối với hành vi gây thiệt hại trong trường hợp thi hành lệnh hợp pháp của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân nhằm bảo vệ quyền lợi của người thi hành mệnh lệnh trong lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều kiện để được loại trừ trách nhiệm hình sự

Điều 26 BLHS 2015 quy định: “Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421 (Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược), khoản 2 Điều 422 (Tội chống loài người) và khoản 2 Điều 423 (Tội phạm chiến tranh).

Phạm vi loại trừ

Loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này chỉ áp dụng đối với những người thuộc biên chế tổ chức của lực lượng vũ trang nhân dân và đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; không áp dụng đối với các trường hợp khác.

Điều kiện áp dụng:

Thứ nhất, khi mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên là đúng pháp luật

Người thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên phải thực hiện đầy đủ, đúng phạm vi được giao và đúng pháp luật, nhưng gây ra thiệt hại cho xã hội, thì họ không phải chịu TNHS, do họ không có lỗi. Tuy nhiên, nếu người thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên tự ý thực hiện hành vi vượt quá phạm vi được giao gây ra thiệt hại cho xã hội, thì người thi hành mệnh lệnh phải chịu TNHS về hậu quả do hành vi vượt quá đó.

Thứ hai, khi mệnh lệnh của người chỉ huy trái pháp luật

Khi mệnh lệnh của người chỉ huy trái pháp luật thì có 04 trường hợp cụ thể như sau để xem xét loại trừ TNHS cho người thi hành mệnh lệnh:

Trường hợp 1: Người thi hành không biết được tính chất trái pháp luật của mệnh lệnh và cũng không có nghĩa vụ phải biết, thì họ không phải chịu TNHS, do họ không có lỗi.

Trường hợp 2: Người thi hành biết được tính chất không đúng pháp luật của mệnh lệnh, nhưng người thi hành mệnh lệnh đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh, nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó. Trong trường hợp này, khi người thi hành mệnh lệnh thực hiện đúng nội dung và phạm vi của mệnh lệnh dù gây ra thiệt hại, thì người thi hành mệnh lệnh cũng không phải chịu TNHS.

Trường hợp 3: Người thi hành biết được tính chất không đúng pháp luật của mệnh lệnh, nhưng không thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo, mà họ vẫn thực hiện và gây ra thiệt hại cho xã hội, thì họ phải chịu TNHS cùng với cấp trên.

Trường hợp 4: Người thi hành biết được tính chất không đúng pháp luật của mệnh lệnh, nên đã không thực hiện, thì họ không phải chịu TNHS.

Thứ ba, mệnh lệnh của người chỉ huy là mệnh lệnh để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Những trường hợp không được áp dụng

Theo Đoạn 2 Điều 26 BLHS 2015 quy định thì các hành vi phạm tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; phạm tội chống loài người; tội phạm chiến tranh trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên thì dù người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì trong mọi trường hợp vẫn phải chịu TNHS.

Quy định trên xuất phát từ tính chất đặc biệt nghiêm trọng của các tội danh trên, nên các nhà lập pháp đã xác định sẽ không có trường hợp ngoại lệ cho những loại tội phạm này.

Nguồn: tạp chí toà án.

Bài liên quan:

Về hiệu lực của Bộ Luật Hình sự

Thế nào là chuẩn bị phạm tội?

Các giai đoạn phạm tội trong Luật Hình sự 2015

Che giấu tội phạm

================

BAN TƯ VẤN PHÁP LUẬT – LUẬT TIỀN PHONG

Hotline: 1900 6289

Hotmail: contact@luattienphong.vn

Địa chỉ: Toà nhà Bình Vượng, số 200, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội

Comments

comments

HOTLINE: 0916 16 26 18

HOTLINE: 0976 714 386