Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng Hình sự

Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng Hình sự

(Luật Tiền Phong)một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật Hình sự là nguyên tắc suy đoán vô tội. Đây là nguyên tắc điển hình của tố tụng tranh tụng thay cho nguyên tắc duy đoán cố tội – điển hình cho nguyên tắc tố tụng thẩm vấn.

Bài viết sau chia sẻ quan điểm của Luật Tiền Phong về nguyên tắc này trong bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015.

Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng Hình sự
Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng Hình sự

Nội dung căn bản của nguyên tắc suy đoán vô tội

Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Điều 9 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã cụ thể hóa quy định trên.

Tuy vậy, nhiều năm sau đó, nguyên tắc công tố hay còn gọi là nguyên tắc về trách nhiệm khởi tố, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc về xác định sự thật khách quan (xác định chân lý vật chất) và nguyên tắc suy đoán có tội vẫn dường như đóng vai trò chủ đạo. Thực tiễn của các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử cho thấy, có một khuynh hướng nhìn nhận bị can, bị cáo như là người đã được coi là phạm tội, dù tội trạng của họ chưa được chứng minh.

Hiến pháp năm 2013 dành hản Chương II – “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” quy định như sau:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1, Điều 31 Hiến pháp năm 2013).

Đây là cơ sở đầy đủ cho nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự.

Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc của một loại hình tố tụng lấy các giá trị công bằng, bình đẳng làm nền tảng; là lá chắn quan trọng và hữu hiệu cho việc tôn trọng bảo vệ và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. Điều 13 Luật Tố tụng Hình sự 2015 đã quy định:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Phân tích nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội

Thứ nhất: về trình tự, thủ tục của việc chứng minh tội và lỗi của người bị buộc tội.

Người bị buộc tội phải được coi là vô tội cho tới khi tội và lỗi của người đó được chứng minh. Việc chứng minh qua các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục quy định trong Luật Tố tụng Hình sự (điều 7). Việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, đơn yêu cầu khởi tố.. (những thủ tục xác minh đầu tiên) cũng phải tuân thủ quy định của Luật Tố tụng Hình sự.

Các bước chứng minh là các thủ tục pháp lý bắt buộc, phải được thực hiện công khai, minh bạch, cấm sự truy bức tuỳ tiện. Việc chứng minh được kiểm soát chặt chẽ hơn thể hiện qua các điều luật:

  • Chứng cứ sẽ bị vô hiệu (Điều 87),
  • Hồ sơ phải được trả lại để điều tra bổ sung (Điều 236 và 280),
  • Bản án bị hủy để điều tra lại hoặc xét xử lại khi xét xử phúc thẩm (Điều 358) và
  • Trong thủ tục giám đốc thẩm (khoản 3 Điều 371, Điều 388) nếu phát hiện có vi phạm thủ tục tố tụng.

BLTTHS năm 2013 cũng quy định trong một chương riêng về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, các biện pháp đặc biệt gồm: Ghi âm bí mật, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 233). Trong những trường hợp đó, Bộ luật đã xác định chặt chẽ nhưng đảm bảo cho việc giữ bí mật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp công nhận, bảo đảm và bảo vệ.

Chỉ áp dụng các biện pháp đặc biệt khi thoả mãn:

– Về loại tội: Các biện pháp điều tra đặc biệt chỉ được áp dụng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền và các tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 224).

– Về thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt: Người có thẩm quyền này phải là Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên và phải được sự phê chuẩn của Viện trưởng VKSND cùng cấp (Điều 225).

– Về thời hạn áp dụng các biện pháp điều tra đặc biệt: Bộ luật xác định thời hạn này là 02 tháng, trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra (Điều 226).

Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định nghiêm ngặt việc sử dụng các thông tin, tài liệu thu thập từ các biện pháp này.

Một phần của nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện yêu cầu của Luật Tố tụng Hình sự: phải bảo đảm xác định và xem xét các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ các căn cứ xác định có tội và những căn cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (Điều 10).

Về trách nhiệm chứng minh:

Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi rằng, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về phía buộc tội. Điều 15 BLTTHS quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.

Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm này dưới bất kỳ hình thức nào.

Bộ luật Tố tụng hình sự nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình và các hình thức trái pháp luật khác trong quá trình thu thập chứng cứ và thực hiện các hoạt động tố tụng khác (Điều 10).

Một trong những biểu hiện khác:

  • Không coi lời nhận tội của bị can, bị cáo là chứng cứ duy nhất; chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án; (Điều 98, BLTTHS năm 2015).
  • Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
  • Những người tham gia tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền đưa ra chứng cứ mà không chỉ là đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Những người này cũng có quyền trình bày ý kiến của mình về chứng cứ do các chủ thể tố tụng khác đưa ra, yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó.
  • Người bào chữa ngoài các quyền kể trên còn có quyền thu thập chứng cứ, đưa ra chứng cứ, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản.

(khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015).

  • Người buộc tội cũng có quyền không trả lời các câu hỏi của cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng mà nhiều người còn gọi ngắn gọn là “quyền im lặng” của người bị buộc tội.
  • Tội và lỗi của người bị buộc tội chỉ có thể được xác định bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
  • Bản án kết tội phải dựa trên các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, chứng minh bị cáo có tội. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nêu ra nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó. (các điều từ 91 – 94, 98 của BLTTHS).

Trách nhiệm của cơ quan tố tụng

Mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó.

 “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” (Điều 13).

Ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội

  • Bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
  • Nguyên tắc này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với thái độ của xã hội, của Nhà nước trong việc dùng pháp luật để điều chỉnh các hành vi xã hội, trong quan hệ của Nhà nước đối với cá nhân. Nguyên tắc suy đoán về tính hợp pháp của hành vi có nghĩa là: Hành vi của cá nhân phải luôn luôn được coi là hợp pháp khi chưa chứng minh được điều ngược lại.
  • Nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự và nguyên tắc suy đoán về tính hợp pháp của hành vi là những biểu hiện ở những mức độ khác nhau của một nguyên tắc pháp luật cao hơn. Đó là nguyên tắc: “Có thể làm tất cả những gì luật không cấm”.

Nguồn tham khảo: trang Kiemsat online.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM:

>>> Tội phạm là gì?

>>> Quy định mới nhất về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

>>> Các hình phạt trong Luật Hình sự

================

BAN TƯ VẤN PHÁP LUẬT – LUẬT TIỀN PHONG

Hotline: 1900 6289

Hotmail: contact@luattienphong.vn

Địa chỉ: Toà nhà Bình Vượng, số 200, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội

Comments

comments

HOTLINE: 0916 16 26 18

HOTLINE: 0976 714 386