Quy định về hiệu lực của di chúc

Quy định về hiệu lực của di chúc

(Luật Tiền Phong) –  tiếp theo các bài viết về di chúc, nội dung, hình thức, điều kiện có hiệu lực của di chúc… bài viết này Luật Tiền Phong xin đề cập đến các quy định của pháp luật về hiệu lực của di chúc, mời các bạn đọc tham khảo.

Quy định về hiệu lực của di chúc
Quy định về hiệu lực của di chúc

Thời điểm có hiệu lực của di chúc

Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Các trường hợp được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Di chúc của một người có thể không định đoạt nhưng có một số người vẫn được hưởng tài sản là mà không phụ thuộc vào ý chí người lập di chúc, di chúc không đề cập họ vẫn được chia di sản, đó là các trường hợp sau:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Phần thừa kế mà những người này được hưởng bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật.

Hạn chế với di sản trong trường hợp di sản dùng để thờ cúng

Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

Luật Tiền Phong tư vấn các vấn đề liên quan đến di chúc và thừa kế, nếu có câu hỏi nào cần tư vấn, các bạn vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6289 để được trợ giúp nhé.

>>> Quy định về người làm chứng trong di chúc

>>> Thế nào là di chúc hợp pháp?

>>> Đất chưa có sổ đỏ có khai nhận di sản thừa kế được không?

================

BAN TƯ VẤN PHÁP LUẬT – LUẬT TIỀN PHONG

Hotline: 1900 6289

Hotmail: contact@luattienphong.vn

Địa chỉ: Tầng 25B1, toà nhà Bình Vượng, số 200, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội

Comments

comments

HOTLINE: 0916 16 26 18

HOTLINE: 0976 714 386