Thủ tục để luật sư được tham gia bào chữa trong một vụ án hình sự

Thủ tục để luật sư được tham gia bào chữa trong một vụ án hình sự

(Luật Tiền Phong) – không may liên quan dến một vụ án hình sự thì việc có một luật sư là cần thiết. Thủ tục để luật sư được tham gia bào chữa trong một vụ án hình sự như thế nào? Mời các bạn đọc bài viết của chúng tôi để biết chi tiết.

Thủ tục để luật sư được tham gia bào chữa trong vụ án hình sựThủ tục để luật sư được tham gia bào chữa trong vụ án hình sự
Thủ tục để luật sư được tham gia bào chữa trong vụ án hình sự

Quy định về quyền được có người bào chữa 

Bộ Luật Tố tụng Hình sự  quy định tại nhiều điều luật về nội dung bào chữa:

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định.

 Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa (điều 58, 59,60).

Trên thực tế, các quy định trên có được thực hiện một cách nghiêm túc hay không lại là một vấn đề rất đáng bàn.

Người bào chữa là ai?

Điều 72 Bộ Luật Tố tụng Hình sự  quy định: Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa, người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Những người sau đây không được bào chữa:

a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;

b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Thời điểm người bào chữa được tham gia tố tụng được pháp luật quy định rất rõ tại điều 74 LTTHS:

Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Trên thực tế, việc luật sư vào làm thủ tục bào chữa ở giai đoạn điều tra là rất khó khăn vì thủ tục rườm rà, phức tạp, phụ thuộc khá nhiều vào ý chí chủ quan của cơ quan điều tra vì sự lệ thuộc, thiếu tự chủ về tinh thần, suy nghĩ của bị can khi bị tạm giam là vô cùng lớn. Phần lớn các cơ quan điều tra không chấp nhận hồ sơ mời luật sư do người thân thích của người bị tạm giữ để hầu tra mời, còn để có được chữ ký của người bị tạm giữ vào đơn mời luật sư thì luật sư lại không được gặp trực tiếp người bị tạm giữ mà phải chuyển qua cơ quan điều tra. Việc họ có đưa giấy mời luật sư, phổ biến quyền mời luật sư bào chữa cho người bị tạm giữ hay không là vấn đề không ai kiểm soát được. Rất nhiều trường hợp sau này khi ra tòa, bị cáo mới nói công an dọa không được mời luật sư, nếu mời luật sư sẽ làm cho tội nặng hơn…. do vậy không dám ký đơn hoặc phải buộc lòng ghi vào đơn rằng tôi không có mong muốn được luật sư bào chữa!!

Thủ tục đăng ký bào chữa

Bộ Luật Tố tụng Hình sự  2015 quy định chủ thể mời luật sư rộng hơn so với Bộ Luật Tố tụng Hình sự  2003, cụ thể: người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội có quyền mời luật sư, thủ tục đăng ký bào chữa đượcquy định như sau:

Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.

Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:

a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội;

b) Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;

d) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.

Trường hợp chỉ định người bào chữa thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ:

a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân;

b) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;

c) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp không được bào chữa và trường hợp người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.

Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp bị đề nghị  thay đổi bởi người bị buộc tội hoặc người thân thích của họ.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về vấn đề cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư tham gia vụ án hình sự, rất mong bạn đọc gần xa quan tâm chia sẻ thêm những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, để con đường hành nghề của luật sư ngày càng được hoàn thiện về hành lang pháp lý.

Trân trọng./.

>>> Quyền được mời người bào chữa trong vụ án hình sự

>>> Vấn đề bồi dân sự trong vụ án hình sự

====================

BAN TƯ VẤN PHÁP LUẬT TIỀN PHONG

Hotline: 1900 6289

Hotmail: contact@luattienphong.vn

Địa chỉ: Toà nhà Bình Vượng, số 200 Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội

Comments

comments

Để lại phản hồi

HOTLINE: 0916 16 26 18

HOTLINE: 0976 714 386