Tư vấn chính sách tái định cư ở Hà Nội

Tư vấn chính sách tái định cư ở Hà Nội

Luật Tiền Phong tổng đài 1900 6289 của chúng tôi tiếp nhận khá nhiều cuộc gọi hỏi về chính sách tái định cư khi bị thu hồi toàn bộ nhà/đất ở, đây là vấn đề được đông đảo bạn đọc quan tâm nên chúng tôi biên tập lại bài viết tư vấn trên cơ sở câu hỏi của khách hàng như sau:

KHÁCH HÀNG HỎI:

Tôi là chủ sử dụng 157,5m2 đất là nhà ở duy nhất tại Tổ 9, ven Đầm Hồng, phường Khương Đình, Quận Thanh Xuân, Hà Nội, nguồn gốc đất tôi mua của nhà nước, đã nộp tiền sử dụng đất đầy đủ, có phiếu thu, đã làm nhà ở từ năm 1992. Năm 2011 nhà nước triển khai Dự án thoát nước nhằm cải thiện môi trường thành phố Hà Nội – Dự án II, toàn bộ nhà đất của tôi nằm trong khu vực giải tỏa. Mặc dù đã thu hồi toàn bộ nhà đất của tôi nhưng UBND quận Thanh Xuân đã chỉ hỗ trợ về đất mà không bồi thường với lý do đất của tôi do UBND xã giao trái thẩm quyền, hiện hồ sơ đất tại UBND phường vẫn là đất đầm do UBND phường quản lý; cũng không giải quyết nhà ở tái định cư cho tôi.

Vậy cho tôi hỏi đất của tôi được giao là đất ở, đã nộp tiền sử dụng đất, đã làm nhà ở từ năm 1992, UBND quận Thanh Xuân xác định đất của tôi là đất đầm là sai hay đúng? và chính quyền không bồi thường đất cho tôi là sai hay đúng? tôi có được bồi thường và hỗ trợ nhà tái định cư hay không?

Cảm ơn luật sư.

Tư vấn chính sách tái định cư ở Hà Nội
Tư vấn chính sách tái định cư ở Hà Nội

LUẬT TIỀN PHONG TRẢ LỜI:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi, vấn đề bạn hỏi, Công ty Luật Tiền Phong tư vấn cho bạn như sau:

1. Quy định về bồi thường, hỗ trợ về đất đối với đất được giao trái thẩm quyền

Điều 46 Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Điều 19 Quyết định 108/2009/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội ngày 29/9/2009 quy định:

“Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtđược UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện theo quy định sau:

  • Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì người đang sử dụng đất được bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được giao.
  • Trường hợp sử dụng đất trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ về đất như sau:

a) Được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở; đối với diện tích đất ở trong hạn mức giao đất theo quy định hiện hành;

b) Được bồi thường về đất đối với diện tích đất được giao là đất ở ngoài hạn mức giao đất theo quy định hiện hành, nhưng phải khấu trừ tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất ở”.

Như vậy, nếu bạn được nhà nước giao đất ở dù trái thẩm quyền (do UBND xã giao) nhưng đã nộp tiền sử dụng đất, sử dụng trước ngày 15/10/1993 hiện đang sử dụng đất thì sẽ được bồi thường về diện tích và loại đất ở được giao.

Như bạn trình bày, bạn đã làm nhà ở và sử dụng từ năm 1992 thì cần phải xác định nguồn gốc đất là đất ở cho đúng với thực tế giao đất và sử dụng đất, nếu UBND quận Thanh Xuân xác định nguồn gốc đất đầm là chưa đúng với quy định của pháp luật mà chúng tôi trích dẫn nêu trên. Bạn có thể tham khảo giải pháp tại mục 3 chúng tôi phân tích dưới đây.

2. Điều kiện bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở tại Hà Nội 

Quyết định 23/2014/QĐ-UBND về nội dung thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội do Luật Đất đai 2013 và Nghị định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội quy định tại điều 7 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở (Thực hiện Điều 79 Luật Đất đai và điểm a, khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP) như sau:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam có đủ điều kiện được bồi thường mà không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi, thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở, trong các trường hợp sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị thu hồi toàn bộ đất ở;

b) Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị thu hồi trên 10m2 đất ở và diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở (đối với khu vực các huyện, thị xã: nhỏ hơn 30m2; đối với khu vực các quận: là diện tích không đủ điều kiện mặt bằng xây dựng công trình quy định tại Quyết định số 15/2011/QĐ-UBND ngày 06/5/2011 của UBND Thành phố).

2. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, nếu ở khu vực các huyện thị xã, thì hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chủ yếu được bồi thường bằng đất. Diện tích đất ở được bồi thường bằng diện tích đất ở bị thu hồi nhưng không thấp hơn suất tái định cư tối thiểu và không vượt quá hạn mức giao đất ở mới tối đa tại địa phương.

3. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, nếu ở khu vực các quận, thì hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chủ yếu được bồi thường bằng nhà ở (căn hộ chung cư). Diện tích nhà ở được bồi thường không cao hơn 02 lần diện tích đất ở bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá 180m2 sàn xây dựng.

4. Giá trị nhà ở, đất ở nơi thu hồi, giá trị nhà ở, đất ở bồi thường được xác định cụ thể và tính toán trên phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

5. Đối với trường hợp bồi thường bằng đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:

– Trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở tái định cư thì người được bố trí tái định cư được nhận phần chênh lệch đó;

– Trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở tái định cư thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định 47/2014/NĐ-CP.

Khoản chênh lệch người bị thu hồi đất được nhận hoặc phải nộp được xác định tại phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

6. Người được bồi thường bằng nhà ở, đất ở theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu có nguyện vọng thì được bồi thường bằng tiền và hỗ trợ tiền tự lo tái định cư theo quy định…”.

Căn cứ vào quy định trên, bạn có thể được bồi thường về đất và nếu nhà đất bị thu hồi là duy nhất trên địa bàn phường Khương Trung thì sẽ được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở.

3. Giải pháp cho bạn trong trường hợp này

Nếu hiện nay UBND quận Thanh Xuân ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường mà chưa đúng quy định của pháp luật, bạn có thể khiếu nại đối với quyết định này hoặc hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hành chính. Trường hợp khiếu nại bạn và cần chú ý các vấn đề sau:

Về thời hiệu khiếu nại lần đầu pháp luật quy định là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính. Trường hợp bạn không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại. Chủ tịch UBND quận Thanh Xuân là người giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính của mình.

Về thời hiệu giải quyết khiếu nại lần đầu: Thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Về quyền khiếu nại lần 2: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà bạn không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội sẽ là người giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân.

Về thời hiệu giải quyết khiếu nại lần 2: Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.

Trường hợp khởi kiện bạn cần chú ý: thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là 01 năm kể từ ngày:

  • Nhận được hoặc biết được quyết định hành chính hoặc
  • 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc
  • 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc
  • 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.

Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác khiến cho bạn không khởi kiện được trong thời hạn quy định thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Trên đây là các ý kiến tư vấn của luật sư, hi vọng làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Nếu bạn cần tư vấn thêm hoặc cần hỗ trợ thực hiện, vui lòng điện thoại về tổng đài tư vấn pháp luật của Luật Tiền Phong số 1900 6289 để được trợ giúp.

 

Comments

comments

Để lại phản hồi

HOTLINE: 0916 16 26 18

HOTLINE: 0976 714 386